Nhìn vào con số thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây càng thấy rõ sự vươn lên mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu.

I. Tổng trị giá xuất nhập khẩu, cán cân thương mại và thứ hạng.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 10 năm, giai đoạn 2015-2024 đã đạt 5.520 tỷ USD. Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khập khẩu năm 2015 đạt khoảng 328 tỷ USD thì đến năm 2024, con số này đã lên đến 786 tỷ USD, gấp 2,4 lần (tương ứng tăng tới 458 tỷ USD) so với trị giá xuất nhập khẩu của 10 năm trước.

Mặc dù trong giai đoạn 6 năm gần đây chúng ta phải đối mặt với nhiều biến động mang tính toàn cầu như đại dịch covid, cuộc chiến thuế quan giữa Mỹ và nhiều quốc gia lớn nhưng xuất nhập khẩu hàng hóa vẫn vượt trội, là điểm sáng trong bối cảnh nhiều khó khăn và thách thức.

Tính đến thời điểm hiện tại, tổng trị giá xuất nhập khẩu dự kiến cán mốc 900 tỷ USD vào khoảng thời gian từ ngày 22-26/12/2025.

Như vậy, trong thời gian qua, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt các cột mốc quan trọng. Lần đầu tiên xuất nhập khẩu của Việt Nam cán mốc 100 tỷ USD khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 và liên tiếp chinh phục các cột mốc mới: mốc 200 tỷ USD năm 2011;300 tỷ USD vào năm 2015; 400 tỷ USD năm 2017; 500 tỷ USD năm 2019; 700 tỷ USD năm 2022. Năm 2025 xác lập mốc 900 tỷ USD.

Lãnh đạo Bộ Tài chính, Cục Hải quan thực hiện nghi thức ghi nhận quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 900 tỷ USD

Biểu đồ 1: Các cột mốc đáng nhớ của xuất nhập khẩu hàng hóa

Cả năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam ước tính đạt 920 tỷ USD, tăng 16,9% (tương ứng tăng 133,07 tỷ USD) so với năm trước.

Trong đó, trị giá nhập khẩu năm 2025 ước tính đạt 449,41 tỷ USD, tăng 18% (tương ứng tăng 68,42 tỷ USD) và trị giá xuất khẩu ước tính đạt 470,59 tỷ USD, tăng 15,9% (tương ứng tăng 64,65 tỷ USD).

Biểu đồ 2: Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2015-2024 và ước năm 2025

Với kết quả này đã đưa Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá XNK lớn nhất trên phạm vi toàn cầu. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hiện nay, Việt Nam xếp thứ 21 về xuất khẩu và xếp thứ 20 về nhập khẩu trên toàn cầu, tăng 11 bậc về xuất khẩu và 12 bậc về nhập khẩu so với thứ hạng của 10 năm trước, đây được coi là một bước tiến vượt bậc về lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta.

Cán cân thương mại hàng hóa thặng dư liên tiếp 10 năm, đưa Việt Nam vào vị thế xuất siêu ổn định hơn với con số thặng dư thương mại hàng hóa trên 20 tỷ USD liên tiếp trong 3 năm gần đây.

Năm 2025, dự kiến thặng dư thương mại đạt 21,2 tỷ USD, trong đó thặng dư thương mại chủ yếu đến từ khối FDI với 48,2 tỷ USD còn các doanh nghiệp trong nước thâm hụt thương mại hơn 27 tỷ USD.

Biểu đồ 3: Thặng dư thương mại của Việt Nam giai đoạn 2016-2024 và ước năm 2025

II. Xuất nhập khẩu doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.

Những năm gần đây, nhờ sự tăng trưởng vượt trội của nhóm hàng máy vi tính, điện thoại, sản phẩm điện tử và linh kiện đã giúp cho xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI  đạt được kết quả ấn tượng.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của khối FDI dự kiến lần đầu tiên vượt mốc 600 tỷ USD trong năm 2025, đạt  kỷ lục khoảng 663 tỷ USD, tăng tới 25% so với năm trước và chiếm tỷ trọng 72% trong tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước.

Với kết quả này, dự kiến xuất nhập khẩu của khối các doanh nghiệp FDI  đóng góp tới 99% vào tăng xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong khi khối doanh nghiệp trong nước gần như tương đương với mức trị giá của năm trước, dự kiến đạt khoảng 257 tỷ USD.

Biểu đồ 4: Trị giá và tỷ trọng xuất nhập khẩu hàng hóa của Doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước ước tính năm 2025

III. Mặt hàng xuất nhập khẩu hàng hóa

Năm 2025, cả nước ước tính có 36/45 nhóm hàng có trị giá xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Trong đó có 8 nhóm hàng đạt trị giá trên 10 tỷ USD với tổng trị giá ước tính đạt 319 tỷ USD, chiếm 68% trị giá xuất khẩu của cả nước.

Xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước năm 2025 với ước tính đạt khoảng 400 tỷ USD, tăng 16,6% (tương ứng tăng 57,04 tỷ USD) so với năm trước và chiếm tỷ trọng khoảng 85,2% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước. Xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản trong năm 2025 ước đạt 44,46 tỷ USD, tăng 14,1%, tương ứng tăng 5,51 tỷ USD so với năm trước và chiếm tỷ trọng khoảng 9,5% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước. Xuất khẩu nhóm nhiên liệu khoáng sản chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 1%

Biểu đồ 5: 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và ước năm 2025

Chiều ngược lại, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 ước tính có tới 49/53 nhóm đạt trị giá trên 1 tỷ USD. Trong đó có 8 nhóm hàng đạt trị giá trên 10 tỷ USD với tổng trị giá ước tính đạt 281 tỷ USD, chiếm tới 63% tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước. Nhập khẩu hàng hóa trong năm 2025 tập trung vào nhập khẩu các nhóm hàng máy vi tính, điện thoại, linh kiện, máy móc thiết bị,  nguyên phụ liệu dệt may da giày, sắt thép, kim loại…Đồng thời cũng gia tăng nhập khẩu hàng tiêu dùng đặc biệt là ô tô.

Biểu đồ 6: 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và ước năm 2025

Xét theo ngành hàng thì nhóm hàng công nghệ cao có trị giá lớn nhất và cũng đóng góp nhiều nhất vào tăng xuất nhập khẩu. Cụ thể, đối với xuất khẩu ba nhóm hàng có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng có tổng trị giá là 222 tỷ USD, chiếm 47% trị giá xuất khẩu cả nước và có mức tăng 43 tỷ USD so với năm trước, chiếm 67% mức tăng xuất khẩu cả nước. Đối với nhập khẩu, ba nhóm hàng trên đạt trị giá 221 tỷ USD, chiếm 49% trị giá nhập khẩu của cả nước và có mức tăng 54,3 tỷ USD so với năm trước, chiếm xấp xỉ 80% mức tăng nhập khẩu cả nước.

IV. Thị trường xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 34 thị trường xuất khẩu và 24 thị trường nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD.

Trung Quốc vẫn là đối tác lớn nhất của Việt Nam trong năm qua với trị giá thương mại hàng hóa song phương ước đạt 252 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước. Hoa Kỳ là đối tác xếp thứ 2 của Việt Nam với 170 tỷ USD, tăng 26,5%. Đặc biệt là Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 8 của Hoa Kỳ và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Hoa Kỳ tại khu vực ASEAN.Như vậy, tổng trị giá xuất nhập khẩu của hai thị trường Trung Quốc và Hoa Kỳ là 422 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 46% tổng trị giá xuất nhập khẩu cả nước. Bên cạnh đó, hai thị trường này đóng góp tăng 82 tỷ USD, chiếm 62% mức tăng xuất nhập khẩu cả nước.

Về thị trường xuất khẩu: Năm 2025, ước tính có tới 6 thị trường và 2 khu vực thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD. Đó là thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Ấn Độ và khu vực EU(27 nước) và ASEAN. Tính chung, tổng trị giá xuất khẩu của nhóm thị trường này đạt 398,19 tỷ USD, chiếm 84,6% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

Biểu đồ 7: 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và ước tính năm 2025

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu dẫn đầu của Việt Nam, đạt mốc kỷ lục với 151,85 tỷ USD, tỷ trọng chiếm 32% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng tới 32 tỷ USD so với năm trước. Tiếp theo là Trung Quốc đạt 69 tỷ USD; EU (27 nước) đạt 56 tỷ USD; ASEAN đạt 38 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 29 tỷ USD; Nhật Bản đạt 27 tỷ USD; Hồng Kông đạt 17 tỷ USD; Ấn Độ đạt 10 tỷ USD.

Về thị trường nhập khẩu: Năm 2025, ước tính có tới 5 thị trường và 2 khu vực thị trường đạt kim ngạch nhập khẩu trên 10 tỷ USD. Đó là thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ và khu vực EU(27 nước) và ASEAN. Tính chung, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm thị trường này đạt 388 tỷ USD, chiếm 86% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỷ USD, tỷ trọng chiếm xấp xỉ 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước và tăng tới 39 tỷ USD so với năm trước. Tiếp theo là các thị trường Hàn Quốc đạt 60 tỷ USD; ASEAN đạt 53 tỷ USD; Đài Loan đạt 33 tỷ USD; Nhật Bản đạt 25 tỷ USD; Hoa Kỳ đạt 18 tỷ USD; EU(27 nước) đạt 17 tỷ USD.

Biểu đồ 8: 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và ước tính năm 2025

V. Hải quan Việt Nam nỗ lực tạo thuận lợi thương mại, góp phần đưa kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 cán mốc 900 tỷ USD

1. Công tác tạo thuận lợi thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp

Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều biến động, ngành Hải quan đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý thuế, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan và chuyển đổi số. Trọng tâm là kiểm soát chặt chẽ khâu khai báo, xác định mã số, trị giá, xuất xứ hàng hóa; tăng cường kiểm tra sau thông quan và phòng, chống gian lận thương mại, trốn thuế, qua đó bảo đảm thu đúng, thu đủ và tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp. Nhờ đó, đến ngày 18/12/2025, tổng thu ngân sách nhà nước qua ngành Hải quan đạt 448.503 tỷ đồng, bằng 109,1% dự toán, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2024; đồng thời góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, đưa kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2025 của Việt Nam cán mốc khoảng 900 tỷ USD, khẳng định vai trò quan trọng của ngành Hải quan trong việc vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước, vừa tạo động lực cho phát triển thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Hải quan đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tạo thuận lợi thương mại, giảm chi phí và thời gian thông quan cho doanh nghiệp. Trong năm 2025, đã phát huy vai trò kiểm soát chuyên sâu trên nền tảng kỹ thuật, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, vừa tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu. Cụ thể, đã tiếp nhận và xử lý 6.548 mẫu phân tích, phân loại (tăng 20%) và 496 mẫu kiểm định, ban hành 326 Thông báo kết quả phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu. Việc ban hành kịp thời kết quả phân tích, phân loại và kiểm định đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giúp doanh nghiệp giảm chi phí lưu kho bãi và tăng tốc độ quay vòng vốn.

2. Quản lý rủi ro, kiểm soát và chống gian lận thương mại

Song song với tạo thuận lợi thương mại, Cục Hải quan tiếp tục tăng cường công tác quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan và phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại bằng việc sử dụng đồng loạt các biện pháp nghiệp vụ KSHQ, nắm bắt được các phương thức, thủ đoạn mới của các đối tượng buôn lậu, GLTM. Đây là bước đi quan trọng để Việt Nam bắt kịp xu thế quản lý hải quan hiện đại trên thế giới. Trong năm 2025, đã triển khai quyết liệt công tác rà soát dữ liệu, phát hiện và kiến nghị truy thu cho ngân sách nhà nước hơn 83,9 tỷ đồng. Công tác này không chỉ bảo đảm thu đúng, thu đủ mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch, nâng cao niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư.

3. Đổi mới nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số

Năm 2025, Cục Hải quan tiếp tục xác định công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật là khâu đột phá, nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu, chủ động, trách nhiệm, quyết liệt trong xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, chủ động đề xuất những chính sách đột phá (như quy định tạo thuận lợi về điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp bản dẫn, quy định thuận lợi hơn về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ): tập trung đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyên khích sáng tạo và bám sát chủ trương, đường lối tại các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, đặc biệt là 4 Nghị quyết tử trụ của Bộ Chính trị.

Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về cải cách, hiện đại hóa hải quan, Hải quan tập trung vào chuẩn hóa nghiệp vụ và đổi mới sáng tạo, đã triển khai xây dựng các chỉ tiêu VILAS tại 05 đội Kiểm định Hải quan, chuẩn hóa hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn VILAS; đồng thời bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích hình ảnh và dữ liệu kỹ thuật. Những giải pháp này đã góp phần chuẩn hóa danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu, giảm tỷ lệ khai báo sai, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan.

4. Giảm tỷ lệ kiểm tra, khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật hải quan

Trong năm 2025, Cục Hải quan ban hành Đề án “Giảm tỷ lệ kiểm tra trong thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” (Quyết định số 779/QĐ-CHQ ngày 25/6/2025).

Kết quả cho thấy, tỷ lệ tờ khai luồng Vàng giảm 4,09%, luồng Đỏ giảm 0,52%; tỷ lệ luồng Xanh duy trì khoảng 70%, tỷ lệ kiểm tra hải quan (luồng Vàng + luồng Đỏ) giảm xuống còn khoảng 30%, thấp hơn 5% so với thời điểm trước khi triển khai Đề án. Việc giảm tỷ lệ kiểm tra đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan, giải phóng hàng hóa, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Cục Hải quan đã triển khai Chương trình khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật hải quan theo Quyết định số 2790/QĐ-TCHQ ngày 04/12/2024. Đến ngày 15/12/2025, đã có 395 doanh nghiệp ký kết Biên bản tham gia Chương trình, thể hiện sự đồng hành, hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp.

 

                                                                        CỤC HẢI QUAN